| Đội | Giờ | Ngày | Sân |
| Blackburn Rovers | 08:30 | 23/11/08 | White hart Lane |
| Tỉ số | Giờ | Ngày | Sân | ||
| Tottenham Hotspur | 1 - 2 | Middlesbrough | 09:00 | 16/08/08 | The Riverside Stadium |
| Tottenham Hotspur | 1 - 2 | Sunderland | 09:00 | 23/08/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 1 - 1 | Chelsea | 07:30 | 31/08/08 | Stamford Bridge |
| Tottenham Hotspur | 1 - 2 | Aston Villa | 02:00 | 16/09/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 0 - 0 | Wigan Athletic | 09:00 | 21/09/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 0 - 2 | Portsmouth | 07:30 | 28/09/08 | Fratton Park |
| Tottenham Hotspur | 0 - 1 | Hull City | 09:00 | 05/10/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 1 - 2 | Stoke city | 10:00 | 19/10/08 | Britannia Stadium |
| Tottenham Hotspur | 2 - 0 | Bolton Wanderers | 10:00 | 26/10/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 4 - 4 | Arsenal | 03:00 | 30/10/08 | Emirates Stadium |
| Tottenham Hotspur | 2 - 1 | Liverpool | 12:30 | 02/11/08 | White hart Lane |
| Tottenham Hotspur | 2 - 1 | Manchester City | 10:00 | 09/11/08 | City of Mcr. Stadium |
| Tottenham Hotspur | 1 - 2 | Fulham | 10:00 | 15/11/08 | Craven Cottage |
Tottenham Hotspur
Tên đầy đủ: Tottenham Hotspur Football Club
Năm thành lập: 1882 với tên ban đầu là Hotspur F.C.
Biệt danh: Spurs, Lilywhites, Yids
Sân nhà: SVĐ White Hart Lane, Tottenham, London, Anh
Sức chứa: 36.240 chỗ
Chủ tịch: Daniel Levy
HLV: Martin Jol
Giải đấu: Giải ngoại hạng Anh và Cúp FA.
Thứ hạng: Thứ 5 mùa 2005-2006 giải ngoại hạng THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI >Đội bóng ở phía bắc thành phố London đã cung cấp cho giải ngoại hạng hàng loạt các ngôi sao và làm say mê các cổ động viên bằng thứ bóng đá hoa mỹ và đầy hưng phấn. Việc ký hợp đồng với tiền đạo người Đức Jurgen Klinsmann từ CLB Monaco năm 1994 đã mở đường cho việc hàng loạt các CLB hàng đầu của giải ngoại hạng khẩu cầu thủ từ nước ngoài. Các cựu Spurs (tên gọi cầu thủ Tottenham HOtsspur) cùng với người hùng Argentina Ossie Ardiles, sau đó là Gerry Francis đã tạo thành một tuyến tấn công đáng sợ xung quanh Klinsmann. Nick Barmby, Darren Anderton, Ilie Dumitrescu và Teddy Sheringham tất cả đã ra sân tạo thành một đội bóng với ý nghĩ duy nhất trong đầu: bàn thắng. Với ảnh hưởng của Klinsmann Tottenham Hotspur kết thúc mùa giải 1995 ở vị trí thứ 7 là kết quả tốt nhất của đội trong suốt 13 năm tham dự giải ngoại hạng. CLB đã rất tiếc tiền đạo này (Klinsmann) khi anh chỉ chơi cho White Hart Lane (sân nhà của Spurs) một mùa bóng rồi chuyển đến Bayern Munich. Sau khi HLV người Thuỵ Sỹ Christian Gross chịu đựng cơn ác mộng 10 tháng ở CLB, năm 1998 cựu lãnh đạo Arsenal George Graham đã đến. Người Scotland này (Graham) đã kiếm được cho Spurs (Tottenham Hotspur) một cúp Liên đoàn duy nhất vào năm 1999. Thành tích ngày càng khó kiếm hơn đối với Graham và CLB đã trở lại với cựu cầu thủ con cưng của mình là Glenn Hoddle, người đã nhận lãnh đạo đội bóng với lời hứa sẽ mang lại một kỷ nguyên bóng đá mới đặc sắc. Sự tham gia của Robbie Keane, Jamie Redknapp rồi Fredi Kanoute đã làm bùng lên niềm lạc quan trong các cổ động viên. Tuy nhiên tháng 9-2003 Hoddle bị sa thải do sử khởi đầu mùa giải yếu kém và Jacques Santini được bổ nhiệm thay thế vào tháng 6-2004 sau một thời gian dài tìm kiếm. Martin Jol đã thay thế Santini ra đi tháng 11-2004 và đã không bỏ phí thời gian xây dựng tương lai cho đội bóng với việc mang về những tài năng trẻ của nước Anh như Aaron Lennon, Michael Dawson, Jermaine Jenas và Tom Huddletone. Spur đã để tuột trong gang tấc xuất tham dự cúp Champion League nhưng kết thúc mùa giải ngoại hạng xếp thứ năm, vị trí cao nhất đến nay của CLB cùng với một suất ở cúp UEFA.
LỊCH SỬ CLB
Câu lạc bộ bóng đá Tottenham Hotspur (tiếng Anh: Tottenham Hotspur Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá ở London, thủ đô Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Câu lạc bộ còn có các tên gọi khác như Spurs, The Spurs, Tottenham hay Lilywhites. Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động White Hart Lane.
Câu lạc bộ được thành lập năm 1882 với tên gọi Hotspur Football Club. Cái tên này có liên quan với tên của Sir Henry Percy (Sir Harry Hotspur). Tuy nhiên, để tránh sự nhầm lẫn với một câu lạc bộ khác (London Hotspur), câu lạc bộ đổi tên thành Tottenham Hotspur như hiện nay.
Tottenham Hotspur chuyển sang chuyên nghiệp cuối năm 1895. Năm 1899, Spurs chuyển đến địa điểm mới, nay chính là nơi đặt sân vận động White Hart Lane. Tháng 4 năm 1901, Tottenham vô địch cúp FA sau khi thắng Sheffield United (lượt đi: 2-2; lượt về: 3-1) và trở thành đội bóng đầu tiên không chơi tại giải vô địch quốc gia đoạt được cúp này.
Mùa giải 1909-10, Tottenham giành quyền lên hạng nhất nhưng không giành bật cứ danh hiệu nào cho đến năm 1920, năm họ đoạt chức vô địch giải hạng 2. Việc câu lạc bộ phải xuống hạng 2 mùa giải đó được cho là do sự bịp bợm khi Arsenal thay thế vị trí Tottenham mặc dù Arsenal chỉ đứng thứ 6 giải hạng 2 mùa giải trước.
Ngày 23 tháng 4, Tottenham giành cúp FA lần thứ 2 sau khi đá bại Wolverhampton Wanderers 1-0 tại sân vận động Stamford Bridge. Tuy nhiên, sau chiến thắng này, Tottenham phải trải qua một giai đoạn xuống dốc rồi phải chơi ở giải hạng 2 từ năm 1928 đến năm 1950.
Năm 1951, Tottenham trở thành câu lạc bộ đầu tiên vô địch 2 hạng đấu trong 2 năm liên tiếp (giải hạng 2: 1950; giải hạng nhất: 1951). Các cầu thủ nổi tiếng thời gian này là Alf Ramsey, Ronnie Burgess, Ronnie Burgess, Len Duquemin, Sonny Walters và Bill Nicholson.
Năm 1958, Bill Nicholson trở thành quản lý mới và mở ra một thời kỳ huy hoàng cho câu lạc bộ. Các năm sau đó, Tottenham liên tục gặt hái nhiều danh hiệu. Đầu tiên là cú đúp vô địch Anh và cúp FA năm 1961. Năm sau tiếp tục đoạt cúp FA và vào bán kết cúp C1. Và giành cúp C2 năm 1963. Các cầu thủ nổi tiếng khi đó là Danny Blanchflower, John White, David Mackay, Cliff Jones và Jimmy Greaves.
Bill Nicholson một lần đoạt cúp FA năm 1967 với nhiều cầu thủ mới như Alan Gilzean, Mike England, Alan Mullery, Terry Venables, Joe Kinnear và Cyril Knowles. Mặc dù đoạt thêm 1 cúp UEFA năm 1972, 2 cúp Liên đoàn các năm 1971 và 1973 và lọt vào trận chung kết cúp UEFA năm 1974, nhưng Nicholson phải từ chức vì thành tích khởi đầu kém cỏi của mùa giải 1974-75.
Những năm đầu thập niên 1980, dưới sự dẫn dắt của Keith Burkinshaw, Tottenham giành chiếc cúp FA thứ 6 (1981) và 7 (1982) cùng với chiếc cúp UEFA thứ 2 (1984). Các cầu thủ quan trọng gồm Steve Archibald, Garth Crooks, Glenn Hoddle, Osvaldo Ardiles và Steve Perryman. Trong đó Steve Perryman đã chơi cho Spurs 655 ở giải vô địch trong 7 mùa bóng.
Từ đó đến cuối thế kỷ 20, Tottenham mới giành thêm 2 danh hiệu lớn gồm 1 cúp FA (1991) và 1 cúp Liên đoàn (1999). Các cầu thủ nổi tiếng đã chơi cho câu lạc bộ trong khoảng thời gian này có Paul Gascoigne, Gary Lineker, Jürgen Klinsmann, Gheorghe Popescu, Ilie Dumitrescu, Teddy Sheringham, Nick Barmby và Darren Anderton.
THÀNH TÍCH:
Vô địch liên đoàn (2): 1950-51, 1960-61
Siêu cúp BĐ Anh (8): 1921, 1951, 1961, 1962, 1967, 1981, 1991
Cúp FA (8): 1901, 1921, 1961, 1962, 1967, 1981, 1982, 1991
Cúp Liên đoàn (3): 1971, 1973, 1999
Cúp C2 châu Âu (1): 1963
Cúp UEFA (2): 1972, 1984