| Đội | Giờ | Ngày | Sân |
| Manchester United | 09:00 | 30/08/08 | Old Trafford |
| Blackburn Rovers | 10:00 | 10/01/09 | Craven Cottage |
| Tỉ số | Giờ | Ngày | Sân | ||
| Fulham | 1 - 2 | Hull City | 09:00 | 16/08/08 | Boleyn Ground |
| Fulham | 1 - 0 | Arsenal | 11:30 | 23/08/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 2 - 1 | Bolton Wanderers | 09:00 | 13/09/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 1 | Blackburn Rovers | 09:00 | 20/09/08 | Ewood Park |
| Fulham | 1 - 2 | West Ham United | 09:00 | 27/09/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 1 | West Bromwich | 09:00 | 04/10/08 | The Hawthorns |
| Fulham | 0 - 1 | Sunderland | 09:00 | 18/10/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 1 - 1 | Portsmouth | 10:00 | 26/10/08 | Fratton Park |
| Fulham | 2 - 0 | Wigan Athletic | 02:45 | 30/10/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 1 | Everton | 07:45 | 01/11/08 | Ewood Park |
| Fulham | 2 - 1 | Newcastle United | 11:00 | 09/11/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 2 - 1 | Tottenham Hotspur | 10:00 | 15/11/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 0 | Liverpool | 10:00 | 22/11/08 | Anfield |
| Fulham | 0 - 0 | Aston Villa | 10:00 | 29/11/08 | Villa Park |
| Fulham | 1 - 1 | Manchester City | 07:45 | 06/12/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 0 | Stoke city | 10:00 | 13/12/08 | Britannia Stadium |
| Fulham | 3 - 0 | Middlesbrough | 10:00 | 20/12/08 | Craven Cottage |
| Fulham | 0 - 0 | Tottenham Hotspur | 08:00 | 26/12/08 | White hart Lane |
| Fulham | 2 - 2 | Chelsea | 09:00 | 28/12/08 | Craven Cottage |
Tên đầy đủ: Fulham Football Club
Biệt danh (Nickname): The Cottagers, The Whites
Năm thành lập: 1879
Sân nhà: SVĐ Craven Cottage, Fulham, London
Sức chứa: 26,300 chỗ ngồi
Chủ tịch: Mohamed Al-Fayed
HLV: Lawrie Sanchez
Giải đấu: Giải ngoại hạng, cúp FA (Mùa 2006–07 xếp thứ 16 giải ngoại hạng)
THÀNH TÍCH Ở GIẢI NGOẠI HẠNG
Fulham có thể vui mừng vì sự thăng tiến đáng kể lên thứ bậc hàng đầu của bóng đá Anh. Khi giải ngoại hạng Anh được khởi tranh năm 1992, Fulham lúc đó chỉ có mong ước đơn giản là không bị tụt xuống giải hạng ba. Ba năm sau đó CLB của các cầu thủ Cottager (nickname của Fulham) phải đối mặt với việc hoàn toàn biến mất khỏi bản đồ bóng đá.
May thay những ngày đó đã trở thành những kỷ niệm rất xa. Chủ tịch CLB Mohamed Al Fayed là một người thích khoa trương luôn mơ ước về một ngày Fulham chiến thắng ở giải ngoại hạng nên đã đầu tư nhiều tiền để theo đuổi mục tiêu này.
Sau khi đoạt danh hiệu ở giải hạng nhất năm 2001, đội bóng được tập hợp bằng một đống tiền của Fayed có thể tiếp cận nhóm những đội hay nhất của bóng đá Anh. Fulham khởi động mùa bóng mới bằng trận đấu với Manchester United và mặc dù thua với tỷ số 2-3 nhưng đội bóng đã chứng minh được là mình thuộc vào nhóm hàng đầu. Ba mùa tiếp theo đội củng cố và cải thiện vị trí của mình trong giải ngoại hạng và tham vọng của đội cũng lớn dần lên, mong vươn tới những vị trí cao hơn. Kết thúc mùa giải với vị trí ở nửa trên của giải ngoại hạng là dấu ấn của những ngày thành đạt này. CLB chia tay với HLV người Pháp Jean Tigana tháng 4-2003, ước mơ của Fayed về các danh hiệu cao được trao vào tay HLV Chris Coleman, người đã đưa Fulham về thứ 9 trong giải ngoại hàng mùa 2003/2004. Mùa sau 2004/2005 các cầu thủ Cottagers xếp thứ 13, tiếp đó đã thắng 13 trận trên sân nhà trên đường giành vị trí thứ 12 của giải ngoại hạng. Trong mùa giải 2006/2007 đội đã gặp khó khăn vì HLV Coleman ra đi khi đội còn 5 trận đấu của mùa giải và Lawrie Sanchez được bổ nhiệm là người dẫn dắt mới của đội bóng.
LỊCH SỬ CLB
CLB được một nhóm các tín đồ đi lễ nhà thờ thành lập năm 1879, nhưng cái tên Fulham đến năm 1888 mới được chấp nhận và CLB cũng có nhiều sân nhà trước khi định cư tại sân Craven Cottage từ 1896 đến ngày nay. Các cầu thủ Cottagers tham gia liên đoàn bóng đá từ năm 1907 nhưng họ đã phải chờ đợi hơn 40 năm mới tới ngày có được một chỗ trong nhóm hàng đầu của bóng đá, được thi đấu 3 mùa ở giải hạng nhất (khi đó chưa có giải ngoại hạng) trước khi bị rớt xuống giải hạng nhì. Giai đoạn thứ hai của họ còn thắng lợi hơn. Talisman Johnny Haynes, người đã đá 594 trận cho Fulham từ 1952 đến 1970 và 56 lần khoác áo đội tuyển Anh đã giúp CLB trụ vững ở tốp đầu của bóng đá trong những năm 1960. Các cầu thủ bóng đá huyền thoại như Bobby Moore, George Best và Rodney Marsh đã được CLB tuyển mộ trong khoảng giữa những năm 1970, mặc dù vậy kết hợp của những tài năng này cũng không thể đưa Fulham lên bậc cao nhất, nhưng Fulham nhanh chóng nổi tiếng vì lối chơi hào hoa hấp dẫn của mình.
Những năm 1980 và 1990 là giai đoạn thử thách và vị trí của Fulham trong liên đoàn bị đe doạ cho tới khi chủ tịch mới của CLB ông Mohamed Fayed tài trợ cho việc phục hồi đội bóng. Giấc mơ đã trở thành hiện thực vào năm 2001 khi bằng một cơn lốc chiến thắng Fulham đã giành chức vô địch giải hạng nhất và được thăng hạng lên giải ngoại hạng Anh.
ĐỘI HÌNH HIỆN NAY (Đến 10-8-2007)
| |
|
ĐỐI THỦ CỦA FULHAM
Đối thủ quan trọng nhất của Fulham trong khu vực là CLB cùng chơi ở giải ngoại hạng Chelsea F.C. cũng có trụ sở ở Fulham, do vậy sự cạnh tranh giữa hai CLB là rõ ràng nhất. Ngày 19-3-2006 Fulham đã lần đầu tiên chiến thắng Chelsea trong vòng gần 27 năm do bàn thắng của Luis Boa Morte.
Fulham cũng có nhiều đối thủ khác ở khu vực London, trong đó có West Ham United F.C., Crystal Palace, Tottenham Hotspur, Charlton Athletic và Arsenal, tất cả đều sẽ tham gia cuộc cạnh tranh trong mùa giải đã tới.
Fulham có lẽ là CLB phải thay đổi nhiều sân nhà nhất trước khi có thể an cư lạc nghiệp ở SVĐ Craven Cottage từ năm 1896 đến nay. CLB đã trải qua các sân vận động sau:
1879 - Hurlingham Park, Fulham
1879-1883 - Star Road, West Kensington
1883-1884 - Eel Brook Common, Fulham
1884-1885 - Lillie Rec, Fulham
1885-1886 - Putney Lower Common, Putney
1886-1888 - Ranelagh House, Fulham
1888-1889 - Barn Elms Playing Fields, Barnes
1889-1891 - Parsons Green, Fulham and Roskell's Fields (next to Parsons Green tube station)
1895-1896 - Captain James Field, West Brompton
1896-2002 - Craven Cottage, Fulham
2002-2004 - Loftus Road, Shepherd's Bush (chung với Queens Park Rangers khi sân Craven Cottage tu sửa)
since 2004 - Craven Cottage
THÀNH TÍCH CỦA CLB
Cúp West London: 1886, giải nhì năm 1893
West London Observer Cup: 1891, giải nhì năm 1893
London Senior Cup: Giải nhì năm 1896
Giải hạng nhì Miền Nam: Vô địch 1902, 1903, giải nhì năm 1900
Giải hạng nhất Miền Nam: Vô địch 1906, 1907 (được thăng lên giải Liên đoàn)
London Challenge Cup: Vô địch năm 1910
Giải liên đoàn 2: Vô địch năm 1932 (Khu vực)
Giải Liên đoàn 1: Vô địch năm 1949, 1999
Giải Liên đoàn: Vô địch năm 2001
Cúp Liên đoàn: Kết quả tốt nhất là tư skết các năm 1968, 2004
FA Cup: Vào chung kết năm 1975, bán kết các năm: 1908, 1936, 1958, 1962, 2002
Intertoto Cup: Vô địch năm 2002
UEFA Cup: Vòng 3 năm 2002
Giải ngoại hạng: Vị trí cao nhất: thứ 9, năm 2004